Văn học
Ngọn đồi 13 hộ độc thân
15:48 | 03/12/2021

NGUYÊN QUÂN

Ngọn đồi 13 hộ độc thân
Người đàn bà trung niên dừng lại giữa lưng chừng dốc rồi nói:
 
- Đã tới nơi rồi chú
 
Tôi ngạc nhiên đảo mắt nhìn những ngôi nhà kiên cố khang trang, những vuông vườn nõn xanh hoa trái, hoài nghi thầm hỏi...là đây sao?Khởi hành từ cái chợ trung tâm, nằm kề bên ủy ban xã chiếc xe cà tàng của tôi rề rà chạy theo chiếc tay ga mới toanh trên một đoạn đường trải thảm dầu bóng loáng, chưa kịp nóng máy mà đã đến rồi sao.
 
Nó hoàn toàn khác xa với dự tưởng của tôi về một cự ly in hằn trong ký ức. Một đoạn đường mà trước đây non nửa thế kỷ tôi đã từng ngày phải đi. Đi vã mồ hôi hột với gánh củi rừng còn tươi nặng trĩu vai. Từ cái trí nhớ chưa bị thời gian bào mòn ấy vẫn hiện rõ một con đường đất gồ ghề, ngoằn ngoèo trèo lên tuột xuống bao dốc đồi khe suối, len lỏi giữa những cánh rừng tái sinh rờm rà lau lách, mỗi bước chân đi phải vận dụng lực bám mới khỏi bị trượt dài té ngã vào đám lá lau lách sắc lẻm như dao cạo và phải bước hàng giờ mới ra tới ngọn đồi vừa xuất phát, nơi bây giờ chính là khu chợ trung tâm xã.
 
- Đúng là ở đây hả cháu.
 
Tôi nhìn rồi hỏi, người đàn bà cười ranh mảnh đáp:
 
- Dạ là đây chú, chắc chắn chú đang ngạc nhiên lắm.
 
Tôi cũng cười, nhưng là cái cười nhếch, không dấu được ngỡ ngàng.
 
- Ừ, quả thật chú không tin nổi...
 
Vuốt lại bờ tóc rối bung:
 
- Không ngạc nhiên mới lạ, đã hơn bốn mươi năm dài rồi mà chú.
 
Tôi bất chợt nhìn lại. Nhìn gương mặt đã hiển hiện nhiều nếp nhăn tuổi tác đang đối diện. Nhìn thật kỹ để nhận thức hiện tại rằng cô nhóc lên sáu, bảy tuổi vẫn thường địu đứa em bé bỏng chạy chơi khắp mười ba căn lều trên chóp đồi trong ký ức tôi. Chừ đã là người đàn bà đứng tuổi. Lúc mới gặp bên cái sạp hàng giữa chợ để nhìn nhau là người quen, tôi không có cảm giác lạ lùng như lúc đứng trên ngọn đồi này. Một thứ cảm giác bị cuốn ngược về quá khứ. Người đàn bà... không phải, là cô bé bảy tuổi từ quá khứ đang vui vẻ chạy từ căn lều này sang lều khác với đứa em chưa tròn tuổi đeo bám sau lưng.
 
Hồi đó... Hình như trong trí nhớ của một đứa bé hồn nhiên mọi vết hằn đều rất sâu đậm, người đàn bà vẫn kể vanh vách về cuộc sống khốn khó của mười ba hộ độc thân trên chóp đồi trọc:
 
- Con vẫn nhớ rõ, hồi đó chú trẻ nhất, đẹp trai nhất và cũng lười lao động nhất luôn, cả lô đất 300 mét vuông của nhà nước cấp chú chỉ phát quang lứa mứa, đánh hai ba vồng khoai, trồng vài chục hom sắn, rồi chiều chiều lại xuống dưới khe, ngồi vắt vẻo thổi sáo rất buồn rất hay...
 
Tôi lại nhìn người đàn bà, không, nhìn cô bé bảy tuổi đang hài tội một thằng thanh niên vừa tròn hai mươi, nổi hứng lên ủy ban phường xin đăng ký đi kinh tế mới. Đó là vào những tháng cuối cùng của năm một ngàn chín trăm bảy lăm, khi thành phố kêu gọi phát động chính sách khai hoang những vùng rừng núi để trồng trọt xây làng lập xóm. Là thanh niên độc thân nhưng cũng được chấp nhận biên chế thành một hộ gia đình, lại lên rừng trúng một đợt cũng toàn những gã độc thân. Thật ra những vị kia đều đã lớn tuổi, có gia đình vợ con đùm đề, họ chỉ như người đi tiền trạm, chuẩn bị trước rồi mới đưa gia đình lên, sau khi mọi sự tạm ổn định, nên họ rất siêng phát rẫy tỉa nương, Còn tôi thì mục đích chính là muốn thay đổi một cuộc sống vốn căng thẳng, khốn khó bữa ăn bữa nhịn ở phố phường thời hậu chiến tranh tối tranh sáng. Mà có lẽ cũng do tôi quá lãng mạn, tuy cũng muốn tự xây dựng cho mình một cuộc sống mới, nhưng trẻ tuổi vẫn còn ham chơi hơn làm lụng, nên không đủ nghị lực và bị sự thúc ép bất khả kháng như mười hai hộ độc thân tạm thời kia.
 
Như cổ nhân hay nói về những kẻ lứa mứa rằng là Việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng. Tuy cái khoảnh vườn của tôi cỏ nhiều hơn rau màu, cái sạp giường xập xệu đan vụng bằng mấy cây le nứa lồi lõm lổm nhổm, nhưng hễ ai nhờ làm giúp việc chi cũng lăn lưng nhiệt tình, từ chuyện bứng giúp cái gốc cây nằm chình ình giữa lô đất anh Hường, dựng giúp anh Tự cái nhà ba gian đủ ở cho bà vợ và ba đứa con nhỏ sắp lên thay cho cái lều tranh bé xíu... đến chuyện lội bộ ra bến đò vác giúp đồ đạc, lương thực cho lão Tư bắc... tôi đều siêng. Cái siêng vô duyên vô dảnh ấy tuy không làm cho cái lều mảnh vườn của tôi khá lên nhưng bù lại là tình cảm thương mến của những người cư ngụ trên ngọn đồi mười ba hộ độc thân thời đó, có lẽ nhờ vậy và người đàn bà đang hài tội tôi đã gọi đúng tên, nhận đúng mặt và còn nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt sinh hoạt của tôi khi còn đứng cách nhau cái sạp giữa chợ. Phải thừa nhận khi gặp lại cô bé 7 tuổi ngày xưa là tôi đã nhận lại được đầy đủ khúc đoạn bị nhòe đi trong ký ức mình về một nơi đầy gian khổ nhưng đầy tình thân ái.
 
Con bé bảy tuổi dẫn tôi đi tìm lại vùng đất khổ trong ký ức, là đứa con đầu của ông Nghị, người đưa gia đình lên sớm nhất. Một hộ đông khẩu nhất đồi với năm đứa san sát tuổi. Ông Nghị đưa cả gia đình từ phố lên chỉ sau ba tháng khi đã dựng xong nhà nên người đàn bà đang đứng đối diện với tôi hôm nay cũng thuộc loại cư dân đợt một.
 
Như một câu chuyện kể hay trong một thước phim tư liệu, người đàn bà đã chạm ngạch 50 bây giờ hay cô bé lên bảy ngày xưa là nhân vật chính, là hướng đạo viên dẫn lối cho tôi quay về đúng bước chân của mình thời gian bốn mươi lăm năm trước.
 
- Con có còn nhớ vị trí cái lều của chú ngày trước không, chú muốn nhìn lại.
 
Người đàn bà nhỏ giọng:
 
- Dạ rất nhớ chú à, nó nằm trên kia, dễ nhận ra lắm.
 
Đi bộ, bước chậm rãi bên nhau, chúng tôi men theo dãy hàng rào xây kiên cố kiểu cách, nhìn vào bên trong, chỉ là một căn nhà cấp bốn hình như rất mới, lối bài trí sân vườn khá sang trọng với những tác phẩm lũa cây, khối đá xen lẫn hoa lá đủ sắc màu, tôi bất chợt hỏi:
 
- Nhà của ai mà hay hay rứa cháu?
 
Tôi hỏi và mong câu trả lời sẽ là một cái tên quen, một cái tên nào đó trong trí nhớ của mình, nhưng không. Người đàn bà trả lời câu hỏi bằng cái tên lạ hoắc. Thật ra tôi cũng biết trước rằng không còn ai trong số mười ba hộ đã từng khai hoang còn trụ lại được ở đây khi thu hoạch vụ mùa đầu tiên, sắn thì chỉ còng queo vài củ nhỏ xíu, khoai lang thì, như tay Vinh Rồng, gọi kèm tên với cái hình xâm long vân đen thui cả tấm lưng. Tôi nhớ rất rõ hình ảnh tay này đứng giữa những vồng khoai, đưa cao một bụi lang vừa nhổ lên chỉ toàn lá và chùm rễ nhì nhằng níu đuôi vừa cười sằng sặc vừa nói " Tao chính thức đặt tên cho nó là khoai lang...râu hát bội" Cái bản quyền đặt tên hôm ấy đã minh chứng hầu như cho mọi công sức trồng khoai của cả mười ba hộ. Là vậy nhưng rồi ngọn khoai, hom sắn cũng được cắm lại với đầy đủ bụi tro đốt rẫy thay phân bón. Không còn hy vọng nhiều về đất, cư dân đồi lại quay sang làm củi để bổ sung cho cái tiêu chuẩn lương thực chín tháng nhà nước cấp phát sắp đến thời điểm cắt. Nhớ lại dạo đó, dù toàn là rừng lau lách tranh tre tái sinh, muốn hạ cây làm củi phải đi vào sâu hơn phía dãy núi còn mù xanh, nhưng cũng chỉ là loại cây gỗ tạp.
 
Cực như đi củi, câu nói đầu cửa miệng của dân vùng kinh tế mới cũng đã là minh chứng cụ thể tiến trình đi làm củi của tôi, cực lắm từ chuyện nặng gùi lũi rừng tìm cho được cây to, hạ gục nó xuống, cưa xẻ chẻ nhỏ rồi gánh ra bến đò chờ chuyển về bến Đông Ba.
 
Đò thì mỗi ngày chỉ một chuyến lên và về, ngoài đường sông chẳng phương tiện giao thông đường bộ nào từ thành phố lên được, ngoại trừ cuốc bộ hơn hai chục cây số. Không như bây giờ, ở phố phóng xe vèo trên con lộ bóng loáng là hai mươi phút sau đã đến được trung tâm xã, còn dạo đó phải mất gần tròn một ngày lắc lư vượt thác vượt ghềnh mới cập bến cuối. Nên bến đò cũng là thánh địa của những đôi chân mỏi nhừ, những bờ vai tê cứng để mang những bó củi về phố chợ đổi mắm đổi muối.
 
Tôi cũng như mọi cư dân đầu đời của ngọn đồi mười ba hộ độc thân đều lăn lưng chạm vào cái cực như đi củi. Dân thành phố, loại thanh niên quen chơi như tôi thì đâu biết đến cái đòn gánh nên chỉ vác, vác từng bó bon theo mấy đôi chân gánh thoăn thoắt. Họ một cặp, mình chỉ một bó vậy mà mỗi ngày tôi cũng kéo lê được cả chục bó củi từ nơi đang đứng này ra đến bến đò, đâu được vài tháng, chưa kịp thu hoạch thành quả đợt 2 từ mấy vồng khoai, vài chục cây sắn cũng là khi tôi biết xài cây đòn xóc chơi đủ cặp và nhẹ nhàng lướt như bay kịp theo chân người khác, đó cũng là lúc tôi về xuôi với mấy chục bó củi cực nhọc cuối cùng, và xuôi luôn vào lực lượng thanh niên xung phong vào tận tỉnh Lâm Đồng.
 
Hơn ba năm công tác, cải tạo một vùng rừng núi hoang sơ đầy muỗi mòng, sốt rét và cả dã thú săn mồi như cọp beo chó rừng cá sấu thành một vùng làng mạc trù phú với hàng chục ngàn cư dân yên ổn cày sâu cuốc bẩm tạo dựng cuộc sống mới, đất đai ở vùng này phì nhiêu phong túc, cắm cây gì xuống đất, đất cũng cho đầy hoa lá củ quả, không cằn cỗi bạc màu như vùng đồi có mười ba hộ độc thân. Hết nhiệm vụ khai phá, lại vác ba lô trở về cố xứ, cũng có hỏi thăm, cũng gặp vài người quen trên vùng kinh tế mới xưa, cũng nghe phong thanh, không riêng gì tôi, mà hầu như những hộ khác cũng bung dù, kẻ chạy ngược vô nam, người xuôi dòng về lại phố, chỉ còn gia đình người đàn bà này trụ lại được, nhưng cũng bỏ ngọn đồi mười ba hộ di chuyển ra sát bến đò mở cửa hàng buôn bán, đúng nghề của họ khi còn ở phố.
 
Hồi ức về cực như đi củi của tôi bị người đàn bà cắt đứt bằng một tiếng reo vui vui:
 
- Đây, đây chính là lô đất của chú.
 
Tôi suýt đâm sầm vào người dẫn đường khi đang ngon trớn đi theo hoài niệm, theo ngón tay chỉ của người đàn bà, trước mặt tôi là một chiếc cổng cẩn đá cầu kỳ, lùi sâu bên trong là một ngôi nhà hai tầng khang trang bề thế. Một ngôi nhà từng nằm trong ước mơ của tôi khi đăng ký đi lên đây, Ngôi nhà ấy đang hiện diện trên mảnh đất tôi được cấp phát nhưng với tôi, nó là một ước mơ đã tan tành theo mây khói...
 
Đứng ngẩn nhìn, nhìn bao quát cả một vùng làng mạc đang chuyển mình thành thị tứ đông đúc trù phú, tôi thấy lòng như trầm nặng với ký ức những mảnh vườn cằn cỗi, những mái lều tranh tre không che nỗi nắng mưa, rồi tự vấn chính tôi không đủ nghị lực kiên trì như chủ nhân của ngôi nhà, hay tại vào cái thời ấy. Cái thời người ta không nghĩ được gì nhiều ngoài chuyện đưa dân lên chỉ để trồng tỉa cây lương thực. Không năng động bằng thế hệ đến sau đã linh hoạt thay đổi tư duy từ giải quyết vấn nạn lương thực thành vùng đất trồng cây công nghiệp hoàn toàn phù hợp thổ nhưỡng hơn. Có lẽ sự năng động nhạy bén chuyển đổi những mảng đồi bạc màu trọc trơ không phù hợp cây khoai cây sắn thành cánh rừng xanh thắm của cây keo, cây tràm, cây cao su là một phép màu hoàn thiện ước mơ của bao người đã mang theo khi bỏ phố lên rừng.
 
 
 
 
 
 
Tác giả: Nguyên Quân
Các bài mới
Quán gió (03/08/2022)
Tổ quốc (29/07/2022)
Mùa màng (22/07/2022)
Ngôn ngữ tình (19/07/2022)
Bến cũ (05/07/2022)
Gieo (01/07/2022)
Gửi Cồn Cỏ (07/06/2022)
Các bài đã đăng
Bên sông (30/11/2021)
Đêm cố hương (26/10/2021)
Ở trọ (28/09/2021)
Tình mưa (07/09/2021)