
VĨNH PHÚC
Hát Chầu văn Huế được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa vốn âm nhạc truyền thống của dân tộc để phục vụ cho mục đích tín ngưỡng của các tín đồ thờ Mẫu. Nó mang những giá trị văn hoá tinh thần rất sâu sắc, vừa thể hiện nhu cầu thẩm mỹ vừa thể hiện ước vọng tâm linh của con người trong cuộc sống. Vì vậy, âm nhạc Chầu văn Huế không chỉ là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng mà còn là một loại hình âm nhạc dân gian độc đáo cần được giữ gìn và phát huy trong đời sống hiện đại để làm phong phú thêm món ăn tinh thần cho người dân.
1. Khái lược về tín ngưỡng thờ Mẫu
Sơn Tinh, Chử Đồng Tử, Thánh Gióng, Bà Chúa Liễu là tứ bất tử, trong đó vị bất tử thứ tư kể trên trở thành tổ của một “Đạo thờ Mẫu” được coi là một thứ tín ngưỡng mang tính dân gian và tính thuần Việt so với các tôn giáo ngoại lai. Mẫu được duy trì như một tôn giáo bản địa. Đây chính là cội nguồn văn hóa cổ xưa còn được giữ lại.
Đạo Mẫu hình thành và phát triển trên đất nước ta được chia ra 3 thời kỳ đáng chú ý:
+ Thời kỳ sơ khai được hình thành vào thế kỷ thứ XVI và XVII, lập và tạo dựng đền “Phủ Giày” ở quê Mẫu, tiếp đó là Đền Sòng nơi Mẫu hiển linh, có sự chứng giám sắc phong của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ. Đây cũng là thời kỳ mà các nhà nghiên cứu cho rằng: một hiện tượng biểu thị sự giác ngộ tinh thần dân tộc của lớp nho sĩ thời bấy giờ, họ khát khao hướng tới một kiểu tôn giáo có sắc thái riêng của Việt Nam.
+ Thời kỳ phổ biến sâu rộng việc thờ Mẫu (mẹ). Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các Điện thờ được xây dựng mọc lên khắp nơi. Nhân dân nô nức kéo nhau đi tham gia lễ hội các nơi như: Phủ Giày, Đền Sòng, Điện Hòn Chén, Núi Bà Đen…Hiện tượng này thể hiện một tâm thức hướng về cội nguồn khi đất nước rơi vào sự đô hộ của thực dân Pháp(1).
+ Thời kỳ các đình chùa, miếu mạo được chú ý và phục hồi. Hằng năm các lễ hội dân gian làng, xã được tổ chức vui chơi như ngày hội. Đạo Mẫu được thịnh hành, bén rễ sâu trong nhân dân.
Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu là một một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian khá phổ biến ở Việt Nam, có nguồn gốc sâu xa từ tục thờ Mẹ của cư dân nông nghiệp nhằm đề cao vai trò, chức năng thiêng liêng của người phụ nữ trong cuộc sống. Trong quá trình tiếp thu văn hoá Trung Hoa thì tín ngưỡng thờ Mẹ mang tính bản địa này đã phần nào chịu ảnh hưởng “từ Đạo giáo phù thủy từ Trung Quốc truyền sang”(2) mà biểu hiện cụ thể “như lên đồng, dùng bùa yểm chú trừ tà ma, trị bệnh bằng phương thuật phù thủy...”(3). Nhưng người Việt đã dựa trên nền tảng của niềm tin về các nữ thần để tiếp thu, biến đổi những yếu tố ngoại lai cho phù hợp với màu sắc tín ngưỡng dân gian Việt, hình thành nên tín ngưỡng thờ Mẫu mang nét văn hoá tâm linh rất độc đáo. Tuy nhiên, do truyền thuyết về sự linh ứng của các vị nữ thần ở mỗi địa phương khác nhau nên hệ thống thờ tự thánh Mẫu cũng không thống nhất mà có sự biến đổi tuỳ theo vùng miền, trong đó vị trí tối thượng của ba vị nữ thần tiêu biểu cho ba miền: Mẫu Liễu Hạnh (Vân Cát Thần nữ) phổ biến ở miền Bắc, Thiên Y A Na (Poh Nagar) ở miền Trung, Bà Đen (Muk Juk) ở miền Nam.
Mẹ là nguồn gốc của sự sống, thờ Mẹ, Mẫu chính là Đạo. Trong quá trình biến động của lịch sử, ảnh hưởng quan điểm về vũ trụ: “Ngũ hành tương sinh tương khắc sinh” ít nhiều có ảnh hưởng chi phối đến tôn giáo - tín ngưỡng thờ Mẫu của ta trong sự hình thành tín ngưỡng “Tứ phủ” (Thiên phủ - Địa phủ - Thoải phủ - Nhạc phủ). Trời đất, sông nước, núi rừng, hình tượng người mẹ luôn luôn được nhắc tời một cách thành kính, trang trọng, tin yêu trong tâm thức. Trời thì có Mẫu Thiên, Đất thì có Mẫu Địa, Sông nước biển cả thì có Mẫu Thoải (Thủy) và núi rừng thì có Mẫu Thượng Ngàn (Nhạc Phủ).
Đó là các Thánh Mẫu được tôn thờ trong thiên hạ, nó gắn với quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, phù hợp với đáp ứng được nguyện vọng tha thiết, đòi hỏi của người dân bình thường, gần gũi đời sống con người thực và đời sống tâm linh.
Đất và nước, núi và sông cũng đều có mẹ, có mẹ đất mẹ nước, mẹ núi, mẹ thiên…, tôn vinh đức Mẫu (mẹ) là niềm tín ngưỡng chân thành, sâu sắc rất Việt Nam. Kiếm tìm một thần linh nào đó cũng cốt chỉ nhờ trợ giúp tinh thần để con người tăng thêm sức mạnh, vững niềm tin. Người Mẹ lúc này gần gũi xiết bao! Từ tâm thức con người hiểu như thế và cũng từ đó ra đời sự tôn thờ Mẹ nước, Mẹ rừng, nhân dân thường gọi Mẫu Thoải (Thủy), Mẫu Thượng Ngàn gọi là “Thủy cung thánh mẫu”, “Lâm cung thánh mẫu”. Như vậy, “Tín ngưỡng tứ phủ” có đầy đủ: Thiên phủ, Địa phủ, Sơn phủ (hoặc Nhạc phủ) và Thoải phủ (hoặc Thủy phủ).
Nữ thánh Liễu Hạnh là tấm gương người phụ nữ đầy đủ tài đức được nhân dân tôn thờ và càng ngày được chồng chất những lớp bổ sung để thấy rõ nhân cách của vị thánh bất tử.
2. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế
Cũng như ở Tháp Bà tại Nha Trang - nơi thờ nữ phần Po Nagar của người Chàm, có một bài văn bia cho khắc vào bia đá của Phan Thanh Giản ghi lại truyền thuyết Thiên Y Ana là con của Ngọc hoàng Thượng đế đã giáng sinh tại nơi đây…thì ở Huế, cũng có truyền thuyết người đàn bà thần tiên đã xuất hiện để giúp đời là địa điểm núi Ngọc Trản thuộc làng Hải Cát. Dân làng liền dựng lên một ngôi đền tại hòn núi này để thờ bà. Nhưng ngôi đền đã có ở đây từ bao giờ thì không ai biết rõ. Theo tinh thần một tờ thần sắc do Vua Minh Mạng ban cho đền Ngọc Trản đề ngày 8/5/1834 thì đền đã có tại chỗ dưới thời Gia Long (1802 - 1819). Chắc hẳn kiến trúc của đến bấy giờ còn rất đơn giản. Dù sao sử sách Triều Nguyễn cũng ghi rõ rằng vào tháng 3/1832 vua Minh Mạng đã cho tu sửa và mở rộng đền. Sau đó 2 năm đền lại được trùng tu. Năm 1886, sau khi tức vị, vua Đồng Khánh liền cho xây lại đền này một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ và đổi tên ngôi đền thành ra Huệ Nam Điện để tỏ lòng biết ơn thánh mẫu. Huệ Nam nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam. Huệ Nam Điện ra đời từ đó, với một quy mô quốc gia, được nâng lên hàng quốc lễ, thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Dưới thời vua Đồng Khánh “là lúc tín ngưỡng thờ Mẫu đạt đến điểm cực thịnh, điện Huệ Nam trở thành trung tâm thờ Mẫu được chính quyền phong kiến thừa nhận và nhân dân thường xuyên lễ bái. Từ đó, lễ vía Mẹ được vua Đồng Khánh xem như quốc lễ và điện Hòn Chén đã trở thành trung tâm hành hương của tín đồ thờ Mẫu”(4).
Tại Bắc Bộ, cơ bản là hệ thống Tứ phủ, tại đất Champa cũ là Mẹ Thiên Y A NA. Theo bước chân của người Việt, khi tiến về phương Nam, bà Thiên Y A NA nhiều khi hội nhập với Mẫu Việt để có lúc đồng hóa với Thánh Mẫu Liễu Hạnh trở thành Thiên Tiên Thánh Giáo. Hai dòng chảy của việc thờ Mẫu Nam - Bắc ấy tụ hội với nhau tại Huế làm nảy sinh ra điện Hòn Chén bên bờ Sông Hương,