Huế xưa
Huế - Di tích và Con người
20:09 | 08/11/2014

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG


Những thành phố văn hóa đều cúi nhìn quá khứ của mình trên những di tích. Chính là nhờ biết nhìn các di tích bằng đôi mắt chăm chú, con người có thể sống lại chuỗi thời gian xa xăm đầy những biến cố kỳ lạ đã dệt thành tấm vải vĩnh hằng của hiện hữu gọi là lịch sử; con người hưởng thụ được những hoa văn rực rỡ của trí tuệ gọi là cái Đẹp; tiếp thụ những kinh nghiệm sống quý báu mà những thế hệ xa xưa đã  tạo nên, gọi là văn hóa.
 

Huế - Di tích và Con người

Lịch sử nén chặt trong những di tích, khác với sách vở, làm vang động lòng người bằng sức mạnh hoành tráng và tiếng nói sâu thẳm riêng của nó. Năm xưa tôi về làng Thành Trung tìm dấu tích thành Châu Hóa, nơi thành phố Huế được xây dựng lần thứ nhất vào đầu thế kỷ 14, sau đám cưới của công chúa Huyền Trân, cả ngôi thành của nước Đại Việt lừng lẫy suốt 2 thế kỷ, nay đã bặt dấu dưới những đồng lúa và những vườn rau xanh nổi tiếng của làng Thành Trung. Tôi thử cầm xem một viên gạch di tích; viên gạch tuột khỏi tay tôi bằng một sức nặng không ngờ; tiếng ngân âm u từ trong lòng nó khi gõ vào, tôi linh cảm ra âm thanh mã hóa của mấy trăm năm chinh chiến giữ nước, trong đó trầm hùng giọng ngâm thơ bi tráng của Đặng Dung - người nghĩa sĩ chống Minh đã liều chết giữ cổ thành: "Thù nước chưa xong đầu  đã  bạc. Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày". Tôi đã có dịp đi nhiều miền đất nước, nhìn thấy tận mắt bao nhiêu dấu tích của tổ tiên để lại; từ nắm tro bếp của thuở Vua Hùng dựng nước, mũi tên đồng Cổ Loa, con dao cắt rốn bằng đá của cậu bé làng Gióng nơi Vườn Cà bên sông Hồng, đến thanh gươm giữ thành Hà Nội của Hoàng Diệu, cả đến chiếc hốt đại thần tự làm lấy bằng một đốt trúc ngay thẳng của Phan Thanh Giản... ý thức cội nguồn, chân lý lịch sử và lòng biết ơn tổ tiên truyền đạt qua những di tích, di vật nhìn thấy được là một niềm hạnh phúc vô hạn nuôi dưỡng những phẩm chất cao quý nơi mỗi con người.


Trên một chương trình  thông tuệ đến kỳ lạ trong tác phẩm "Nhà thờ Đức Bà", văn hào Pháp Victor Hugo đã phát hiện ra rằng những công trình  kiến trúc trước hết là những cuốn sách khổng lồ diễn đạt tư tưởng loài người, đặc biệt vào thời mà công nghiệp in chưa được biết tới. Những di tích của nhiều thế kỷ trước, do đó, là triết học và tư tưởng cộng đồng được diễn đạt bằng vật liệu xây dựng. Quần thể di tích Huế phản ảnh rất rõ bản chất triết- mỹ học của người Việt. Lăng các vua Nguyễn là những minh chứng hoành tráng: Lăng Gia Long, kết hợp giữa thế núi hùng vĩ và chất liệu đá hoa cương mênh mông, là biểu hiện của phẩm chất Người Hùng; lăng Minh Mạng, kiến trúc theo nguyên lý đối xứng nghiêm nhặt, chính là lý trí và quyền lực; lăng Tự Đức, trong một tổng thể nhằm phá vỡ sự đối xứng, là mỹ học của Thơ và Thiền, và lăng Khải Định, dù nhiều người chê là "lai căng", thực ra vẫn phản ánh sức chuyển mình của xã hội cũ trong giao lưu với văn minh Tây phương...


Ngoài những quần thể lớn, còn những di tích nhỏ rải rác khắp các làng quê quanh Huế như miếu thờ Bà Chúa Ngọc (tức Huyền Trân), đàn tế thần của giới mục đồng, đền thờ những vị tổ sáng tạo nghệ thuật hoặc công nghệ... ở làng Hiền Lương, một ngôi làng văn hiến thuộc huyện Phong Điền đã sản sinh ra đông đảo những nhân tài văn võ qua nhiều triều đại, nhiều gia đình vẫn giữ một loại di vật riêng: đó là triêng gióng và chiếc đòn gánh, món của hồi môn duy nhất cha mẹ dành cho con gái trong ngày về nhà chồng, như biểu tượng của lời giáo huấn phải xứng đáng trong bổn phận làm vợ, làm mẹ. Tất cả các loại di tích này của truyền thống văn hóa đình miếu đều xuất phát từ những sự kiện có ý nghĩa nào đó đã diễn ra trong quá khứ, mà hàm lượng văn hóa vẫn tiếp tục nuôi dưỡng đạo sống của những thế hệ mai sau.

Lịch sử và văn hóa đã được lưu truyền trong bộ nhớ của con người qua các di tích. Có thể nói một cách không khiên cưỡng rằng, nhìn từ phía tác động của nó đối với hiện tại và tương lai, di tích là "chiều thứ tư" của thế giới bao quanh con người - tức là Thời Gian.


Một hệ quả nội tâm mà các di tích đã góp phần quan trọng trong sự hình thành tính cách con người do nhà tâm lư học Karl Jung khám phá ra, chính là tiềm thức văn hóa. Người ta biết rằng khác với ý thức, tiềm thức tồn tại một cách sâu thẳm, ẩn dấu những chi phối sâu sắc những biểu hiện của tính cách con người. Một cách đơn giản, có thể nói rằng sự tiếp xúc thường xuyên từ bé đến lớn với những di tích (và toàn bộ sự vật mang ý nghĩa tương tự) đưa tới sự hình thành tiềm thức văn hóa nơi mỗi con người, từ đó con người tuồng như ít thay đổi trong cách ở đời của nó, con người mãi mãi đồng nhất với chính mình dù  đã trải qua giao tiếp với nhiều môi trường sống khác nhau. Có lẽ vì thế mà người ta có thể nhận xét về một "tính cách Huế" trong cả cái hay cái dở của nó, tính cách ấy vẫn đeo đẳng mãi, dù những người Huế đã  đi sinh sống khắp bốn phương trời. Về tinh thần, chân dung "người Huế" rất giống với diện mạo thành phố sinh trưởng của mình, nơi đó mọi ý niệm triết lý của cộng đồng đều được diễn đạt qua tổng thể các di tích hầu như vẫn còn nguyên vẹn.


Các di tích là trí nhớ của cộng đồng, mặt khác cũng là kỷ niệm riêng nơi mỗi con người. Dĩ nhiên thôi, những kỷ niệm của tuổi thơ tò mò, những vầng trăng tình ái, nỗi cô đơn tự phát hiện qua dâu bể đời người, tất cả những nỗi riêng ấy hầu như gắn liền với dấu rêu lặng lẽ trên những di tích mà con người đã có lần tìm đến.

Với người Huế hầu như đều là thế. Giữa những hình vẽ khắc trên Cửu Đỉnh ở Thế Miếu, vốn được xem như biểu tượng của toàn bộ tài sản quý báu của đất nước, tôi đã ngạc nhiên và vui mừng biết bao khi  tìm thấy hình ảnh chú ve sầu của thời ấu thơ mê mải. Thế đấy, trên cánh đồng của các di tích, con người lang thang đi tìm lại dấu vết tâm linh của mình, giống như người đàn bà quay quắt đi tìm chiếc trâm bằng cỏ thi bị đánh roii, mà Khổng Tử đã từng gặp và lấy làm lạ.


Nghĩa là, người ta chỉ có thể nhận ra diện mạo của một Huế đích thực không phải bằng con mắt của những chuyên viên thống kê về đô thị, mà bằng tâm thức. Cái có thể nhìn thấy bằng tâm thức đó chính là văn hóa.


H.PN.T