VHNT Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế
Bản sắc văn hoá dân tộc qua sắc thái Huế
19:12 | 10/10/2014

Xứ Huế có một bề dày văn hoá trước khi có văn hoá Việt ở đây hàng thiên niên kỷ. Giới khảo cổ đã tìm được nhiều rìu Đá Mới ở vùng đồi núi và thung lũng. Ở Hương Chử- Phú Ổ, huyện Hương Trà, có một nền "văn hoá cồn bầu" Sa Huỳnh tuổi sắt sớm trên dưới hai ngàn năm. Nhà Hán, cả quan lại và thương nhân, đã đặt chân lên miền ven biển xứ Huế, gọi là huyện Chu Ngô, và để lại ít đồ gốm văn in hình học cùng tiền Ngũ Thù và kiếm sắt... 

Bản sắc văn hoá dân tộc qua sắc thái Huế
Đại Nội Huế
Từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIV, xứ Huế là một vùng-miền của văn minh Chămpa. Vùng Quảng Điền trên lưu vực Ô Lâu, có nhiều tượng nữ thần và tấm bia chữ Chàm. Tháng 8/1993, tôi đã đi thăm cụm Tháp Chàm Trà rồi đi thăm di tích thành Hoá Châu ở làng Thành Trung, xã Hương Vinh trên lưu vực sông Bồ: Đây là Lý thành thời Chăm Pa, còn bảo lưu được ba, bốn tượng Chàm... 
 
Từ năm 1989, tôi đã nghiên cứu kỹ càng "Thành Lồi" (Chàm) ở Nguyệt Biều- Long Thọ trên hữu ngạn sông Hương, đối diện với Thành Lồi, bên tả ngạn, chùa Tháp Thiên Mụ được dựng trên một nền Tháp Chàm xưa. Điện Hòn Chén nổi danh xứ Huế cùng nhiều miếu đền ở phía ngoài các cửa thành Huế đều thờ thánh mẫu Thiên Y-A-NA, một biểu hiện rất cụ thể và sinh động của giao thoa văieät nam hoá Việt Chăm. Nhà nghiên cứu Phan Thuận An ở Trung tâm di tích Huế còn chỉ cho tôi một Cộng đồng tách biệt (isolat) người Việt gốc Chăm ở cách trung tâm Huế không quá 15km về phía Đông Nam. Ở Điện Bàn (Quảng Nam) thuộc Hoá Châu đời Trần cũng mới tìm thấy gia phổ họ Phan là người Việt gốc Chăm. Tôi chắc nếu ráng tìm thì Thừa Thiên (Ô Lâu Quảng Điền chẳng hạn) cũng có những "Hương xưa" Chăm Pa nào đó, vì tôi đã tìm được vào mùa hè 93 ở Quảng Trị hai cộng đồng tách biệt (isolats) người Việt gốc Chăm ở Nhĩ Hạ Vĩnh Linh và ở Phú Hải, Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Đọc Ô Châu cận lục  (1555), ta thấy tác giả Dương Văn An còn nhắc đến nhiều "isolats" Chăm ở vùng nầy là Bình Trị Thiên. Tôi cho Viêt- Chăm cũng như, nếu ở Mai Xá, (Quảng Trị), ở Thanh Hà- Bao Vinh (Huế), ở Hội An, (Quảng Nam).... ngoài cái nhìn trên, nếu không có thêm cái nhìn giao thoa văn hoá- ngôn ngữ Việt Minh Hương thì ta chẳng hiểu được gì (nhiều hay ít) về sắc thái vùng văn hoá Bình-Trị-Thiên... (Sau khi Mãn Thanh lật đổ triều Minh vào khoảng năm 1642, có nhiều cộng đồng, dòng họ "Thập lão Tam gia" người Minh ở vùng ven biển nước ta, và lập ra những "Minh Hương xã" ở Thanh Hà (Huế), ở Hội An (Quảng Nam), ở Chợ Lớn- Sài Gòn và với thời gian đắp đổi, họ đã "Việt Nam hoá" và gia nhập quốc tịch Việt Nam). Có lẽ thầy tôi-Giáo sư Đào Duy Anh- khi nghiên cứu về cảng thị cổ Thanh Hà-Bao Vinh xứ Huế và nhân vật Trần Tiễn Thành-gốc Minh Hương, một đại thần triều Tự Đức- đã đi theo hướng đó. Ai cũng biết thời các Chúa Nguyễn, hàng vạn người Minh Hương đã thep Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu... tới khai khẩn vùng Mỹ Tho, Biên Hoà, Hà Tiên... và được Chúa Nguyễn chấp nhận, vì họ và con cháu họ trở thành người Việt Nam, một số trong đó thậm chí trở thành nhà văn hoá thời Nguyễn như Trịnh Hoài Đức, Mạc Thiên Tích ở Nam, Lý Văn Phức ở Bắc hay Trần Tiễn Thành, Nguỵ Như Komtum ở Huế...
 
Như trên đã nói (Hoá Châu) trở thành đất Việt từ sau đám cưới Huyền Trân- Chế Mẫn (1306). Song bấy giờ số dân Việt di cư vào đây còn ít, dân Chàm ở lại còn đông và trên vùng đồi núi dọc Trường Sơn các tộc thiểu số ngữ hệ Môn-Khơ Me hay ngữ hệ Mã Lai như Vân Kiều, Pa Cô, Katu, Cor, Mnông, Mạ, Giarai... Một xứ Huế thực Đại Việt có lẽ khởi hình từ Lê- Mạc và định hình từ thời các chúa Nguyễn Đàng Trong với chúa Sãi và các chúa tiếp theo trong các thế kỷ XVII-XVIII. Điều thú vị là tôi đã tìm thấy trong Từ điển Việt-Bồ-Latinh của A.de Rhodes (bản in 1651 trong 116) đoạn văn này:
 
"HOÁ, KẺ HOÁ, THUẬN HOÁ: Kinh đô xứ Cô-sinh (Đàng Trong-TQV) mà người Bồ Đào Nha gọi là Sinùa. Kẻ Huế. Cùng một nghĩa".
Thế là rõ: tên Huế (Kẻ Huế, Kẻ Hoá) là Thủ đô xứ Đàng Trong, phù hợp với chính sử nước ta, đã tồn tại từ thế kỷ XVII. (Ông học giả người Pháp-gốc Chăm Po Dharma bảo: xứ Huế ngày xưa người Chăm gọi là HOA).
 
Sau khởi nghĩa Tây Sơn và các cuộc kháng chiến chống Xiêm và chống Thanh, từ 1789 đến 1801, hoàng đế Quang Trung và vua Cảnh Thịnh tiếp theo cũng đóng đô ở Phú Xuân (2) cho dù khi gần mất, Quang Trung có di chúc cho Trần Quang Diệu là chỉ sau vài tháng nên dời đô về Phượng Hoàng Trung Đô bên bờ sông Lam xứ Nghệ.
 
Và khi Gia Long tiêu diệt triều Tây Sơn, lên làm vua cả nước (1802) ông cũng đóng đô ở Huế và bắt tay xây dựng kinh thành Huế mà con cháu ông- nhất là Minh Mạng (1820-1840) đã tiếp nối xây dựng đàng hoàng hơn. Để cuối năm 1993, Huế đã nằm trong danh mục "di sản văn hoá thế giới" theo quyết định của UNESCO.
Từ 1987 tôi đã viết trên tạp chí Sông Hương (5-6) "Người Thăng Long và kẻ sĩ Bắc Hà trách (và tiếc) rằng, các vua Nguyễn (từ Gia Long) đã bỏ cố đô Thăng Long mà xây dựng kinh thành ở Huế- Phú Xuân là nơi không có hậu phương kinh tế trực tiếp hỗ trợ tảng nền, nơi "sơn bất cao, thuỷ bất thâm..." (câu này đúng là của nho sĩ Bắc Hà). Họ đâu có địa vị Gia Long để biết rằng trước năm 1802, Huế-Việt đã có lịch sử trên dưới 200 năm, là "đất bản bộ" của dòng họ chúa Nguyễn: 200 năm đủ cho Huế là nơi kết tinh và hội tụ nhân tài và văn hoá miền Trung-Nam để tạo nên một VÙNG VĂN HOÁ và một sắc thái mới của văn hoá Việt Nam: Vùng văn hoá Huế, sắc thái Phú Xuân của văn hoá Việt Nam cận hiện đại. Sao Gia Long lại ngây thơ về chính trị bỏ đất bản bộ của dòng họ mình để ra đóng đô ở cố đô Đông Kinh của Lê- Trịnh là đất "chân nâng". Sao lại tự tiện bỏ một vùng văn hoá- xã hội tinh tế- như bánh xèo, mắm tôm chua, bánh ít, như điệu hò mái đẩy, mài nhì... đầy dấu ấn của miền Trung mà dòng Nguyễn cùng bao dòng họ gốc Bắc Hà và Thanh-Nghệ-Tĩnh đã cần công tạo dựng mà ra đi để chỉ được tiếng "trở về nguồn" nơi đất Bắc, nhưng dễ dàng ngồi trên đống lửa của sự bất bình, bất mãn của sĩ phu và dân thôn dã Bắc Hà đang đói khổ?

Huế có hai "đầu" trí thức Nho học: xứ Nghệ và xứ Quảng, mà biểu tượng là ông đồ Nghệ và học trò xứ Quảng
 
"Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành"

 
Với 200 năm "đô thị hoá" và "đế vương hoá", đã có một văn hoá đô thị Phú Xuân và những nàng thị dân Huế xinh đẹp và duyên dáng như THƠ. Ấy thế mà người xứ Quảng lại có huyền tích rằng chúa Nguyễn và Gia Long đã từng có ý định dời đô vào xứ Quảng, dưới chân các hòn "núi Chúa" và tiếc rằng Tam Kỳ mới thực là Trung Độ trên đường thiên lý xuyên Việt của mảnh đất chữ S này, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Nhưng trung tâm đâu có nghĩa nhất thiết phải là "chính giữa" thuần tuý về mặt hình học? Chúa Nguyễn đóng đô ở xứ Huế mà không ở xứ Quảng phì nhiêu hơn vì còn luôn luôn phải "để mắt về hướng Bắc", canh chừng sự xâm lấn của tập đoàn chúa Trịnh. Vượt ải Vân mà vô xứ Quảng thì cả miền Bình-Trị-Thiên dễ lọt vào tay chúa Trịnh. Kinh nghiệm lịch sử đã chẳng chỉ ra rằng các vua Chăm Pa đóng đô ở Nam Ải luôn luôn để mất đất từ Bắc Ải Vân trở ra cho Trung Hoa, rồi Đại Việt đó sao?
 
"Chúa ở Phú Xuân, thế tử ở xứ Quảng"

Là công thức tối ưu về địa chính trị, địa chiến lược, với Hội An là cảng chính mà cũng là tiền cảng của Đàng Trong... Còn khi đã thống nhất giang sơn về một mối thì Gia Long đóng đô ở Huế cho tiện sự giao lưu với cả Bắc thành và Gia Định thành....

Người Gia Định cũng nêu một ý- y như bây giờ vài bậc trí giả Sài Gòn vẫn luôn luôn có một ý muốn dời đô Việt Nam hiện đại vô Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh. Nêu Gia Long đóng đô ở Sài Gòn cảng thị thì có lẽ việc ngoại thương và tâm thức cởi mở, tự do hơn của người dân Nam Bộ đất mới sẽ có sức ép tinh thần làm triều Nguyễn đỡ bế quang toả cảng hơn và vì vậy chắc chi đã mất nước cho Tây? Một Sài Gòn "mở cửa" hơn Huế, tôi sẽ nói ngay sau đây. Nhưng xin lưu ý: Những đề nghị cải cách nền chính trị Nguyễn thế kỷ XIX là của Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Bùi Xương Trạch... ở Bắc Hà chứ không phải Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp ở Nam Hà

Trước khi lo Tây còn phải lo Tầu, trước khi lo ngoại thương còn phải lo đê điều, lũ lụt và nông dân khởi nghĩa ở Bắc Hà. Đóng đô tít ở Sài Gòn thì nhà Nguyễn dễ dàng mất đất Bắc không cho Tầu thì cho một ông nào đó mượn danh nghĩa "phù Lê" và "mượn gió" nông dân khởi nghĩa mà "bẻ măng" Nguyễn

Tôi không có ý biện chính cho mọi mưu đồ chính trị của chúa Nguyễn và vua Nguyễn. Nhưng tôi không thích làm nhà sử cứ theo ý chủ quan của mình và "chửi tràn chửi lấp" toàn bộ nhà Nguyễn. Dù vô thức hay vô ý thức, họ đã "quên" vai trò lịch sử của Huế và VÙNG VĂN HOÁ ĐÔ THỊ PHÚ XUÂN HUẾ mà từ nay ta cần gia công nghiên cứu kỹ càng hơn.

Mọi hệ sinh thái văn hoá- nhân văn như hệ sinh thái văn hoá- nhân văn Phú Xuân đều dựa theo và thích nghi với hệ sinh thái tự nhiên. Bản sắc văn hoá Việt Nam càng là sự hoà điệu và thích nghi tối ưu giữa cái TỰ NHIÊN và cái NHÂN VĂN.

Nói đến XỨ HUẾ người ta nói đến SÔNG HƯƠNG, NÚI NGỰ và với lịch sử, sông Hương, núi Ngự trở thành biểu tượng của xứ Huế mến yêu. Sông Hương... thì quá đúng rồi; đấy là sự hợp lưu của hai nguồn Tả Trạch, Hữu Trạch, bắt nguồn từ sườn Đông của dãy Trường Sơn, chảy qua cả một ngàn rừng "xương bồ" cũ nên nước sông được đượm ướp bởi "hương xưa"mà thành tên, và người Pháp cuối thế kỷ XIX có lý khi dịch "sông Hương" thành Rivière des Parfums
Đến với xứ Huế, như năm 1895 rồi năm 1906 gia đình cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và cụ con trai trán rộng tài hoa Nguyễn Tất Thành đi bộ từ xứ Nghệ "vô kinh":

Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ

là đến với sự thơm tho- tinh tế của miền đất Thần kinh, núi Ngự hay Ngự Bình, nói như Phan Thuận An- tác giả luận án cao học Hộ thành Huế từ trước 1975- khi các chúa rồi vua Nguyễn Gia Long, Minh Mạng xây hoàng thành theo nguyên lý phong thuỷ "Thánh nhân Nam điện xưng vương", thì vua chúa Nguyễn đã dùng Núi Ngự Bình (cao 104m, là đồi hơn là núi) cách bờ phải sông Hương 3km làm tiền án và hai hòn đảo nhỏ (Cồn Hến và Cồn Dã Viên) trên sông Hương lam tay ngai "tả thanh long" "hữu bạch hổ" chầu về hoàng đô.
 
Cái nhìn khái quát và tổng thể khiến ta có thể nhận nhìn núi Kim Phụng (cao 427m) là chủ sơn của xứ Huế, đường phân thuỷ của hai nguồn Tả Hữu trạch hợp thành Hương giang. Dưới chân núi Kim Phụng, là nơi an nghỉ ngàn đời của bà hoàng hậu họ Phạm của hoàng đế Quang Trung. Và những người dân chài ra lộng vào khơi trên biển Đông bao giờ cũng nhìn núi Kim Phụng để nhận ra xứ Huế mà vào cho đúng cảng Thuận An

Giáo sư Mai Đình Yên chia VÙNG SINH THÁI TRUNG BỘ  làm mấy KHU SINH THÁI, từ núi đồi xuống vùng ngập mặn. Nhìn theo sinh thái học như vậy, ta có:

+ Một khu Huế núi-đồi (ở phía Tây). Và người Huế khéo tạo nơi đây- từ tự nhiên thành văn hoá-nhân văn (Man-made-Environment)- là khu lăng tẩm để vương. Đấy là một khu hành hương và du lịch- văn hoá (cultural Tourism) của Huế.

+ Một khu Huế cồn bão đôi bờ Hương giang- cùng các nhánh sông Kim Long, Bạch Yến (bị sang lấp hay/ và sửa đổi), An Cựu mà hệ quy chiếu chính là hệ thống hoàng thành- Đại Nội bên tả ngạn cùng chợ Đông Ba, và dải phố xá-trường học- cơ quan bên hữu ngạn.
Một khu Huế đầm phá, với những phá Tam Giang, Hà Trung, Cầu Hai...và những cửa eo cũ, cửa Thuận hôm nay, xứ sở của người Huế chài lưới cá tôm....

Cả ba khu sinh thái Huế đó được nối kết bởi dòng Hương và bởi con người xứ Huế- đô thị.

Quy hoạch đô thị Việt Nam bao giờ cũng nổi trội loại hình đô thị Việt Nam bao giờ cũng nổi trội loại hình đô thị-sông. Hà Nội-Huế-Sai Gòn đều có chung mẫu số văn hoá đó của đô thị Việt Nam. Song sắc thái văn hoá Huế đã được Francoise Corrèje, Đào Thế Hùng, Hoàng Phủ Ngọc Tường... khái quát hoá và mô hình hoá rất tài tình và đúng đắn là:

Thành phố- Vườn

Thành phố-Thơ

Theo tôi hiểu, xứ Huế và Bình Trị Thiên nói chung- nhà Nguyễn gọi vùng "tứ Quảng" (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi) ở hai bên Bắc Nam Huế là Trực Kỳ- mang một ý nghĩa quá độ- trong độ đặc biệt giữa hai miền Nam Bắc nước ta về Trời: miền Bắc có hai mùa nóng- lạnh, miền Nam nóng ấm quanh năm.

Hai miền Nam-Bắc có hai mùa mưa-khô gần như trùng với mùa đông lạnh. Và thực ra ở đây- ít ra là ở thời Nguyễn "ngày xưa"- là vùng không có mùa đông và mùa khô rõ rệt.

Xứ Huế cũng là vùng quá độ về Đất. Các nhà địa (lý) học như giáo sư Lê Bá Thảo (người Huế), giáo sư Tống Duy Thanh (người Thanh), PTS Vũ Tự Lập (người Hà Nội) đều mách ta rằng: Hải Vân hay Ải Vân nơi ranh giới phía Nam của xứ Huế là ngọn núi cuối cùng của một mạch núi từ Trường Sơn đâm ngang ra biển và đó là đường phân giới cả về địa chất và địa lý trong thiên nhiên nước ta giữa Bắc và Nam. Bắc là cảnh quan đá vôi karstic với các hang động kỳ thú, rừng gió mùa chí tuyến, cân bằng bức xạ quá 75 kcalo/cm2/năm hay tổng nhiệt độ 7500 độ C của vùng chí tuyến.

Nam Ải Vân, là những đới rừng á xích đạo, cân bằng xích đạo, cân bằng bức xạ 95 kcalo/cm2/năm hay tổng nhiệt độ 9500 độ C và càng vô Nam, núi non càng trơ trụi, để lộ các khối đá hoa cương (granit) hùng vĩ.... 

Đất- Trời xứ Huế như vậy nên cỏ cây hoa lá, động vật xứ Huế cũng nằm trong vùng đệm giữa thế giới sinh vật Ấn- Hoa (Indonesia...): Đấy là đa dạng của một hệ sinh thái phồn tạp. Giáo sư Trần Từ (thân mẫu thuộc hoàng phái Nguyễn) bảo: lạ lùng nhất là món ăn Huế vốn ra đi (GS Phan Ngọc dùng khái niệm "đế vương hoá") từ món ăn Mường Chợ Đông Ba bán nhiều rau dại cho người Huế sành sỏi dùng ăn; Huế "đế vương" mà vẫn dùng lõi thân  chuối làm canh "nấu với xương bò, xương lợn.... Huế là mảnh đất điển hình của bánh trái, nho nhỏ, thanh thanh, in ít, từ bánh lá bột gạo tẻ rắc tôm chất đến những món trái cây bằng bột nhỏ xíu bày ra đĩa, từ món bánh ướt thịt nướng đơn sơ đến bánh bèo, bánh bột lọc- và món gì cũng cay đến nấc lên rùng mình...

Tôi đã đưa ra bảy tám hệ tạo thành VÙNG VĂN HOÁ HUẾ:

-Hệ tiếng Huế- Hệ Hò Huế-Hệ ca nhạc tài tử cung đình Huế-Hệ Pháp lam Huế, -Hệ món ăn bánh trái Huế- Hệ màu tím, màu trắng trong y phục Huế,-Hệ kinh thành-lăng tẩm đế vương,-Hệ chùa-đền-đình với những dạng vài (vì) giả thủ, thừa lưu, vài chồng, vài luôn.... đan xen kiến trúc Việt Hoa....

Văn hóa Huế là văn hoá đô thị, nhưng tĩnh lặng và thanh bình đến lạ thường, là văn hoá bánh trái, là văn hoá thuyền ca nhạc trên dòng Hương giang, là sự đan xen và giao thoa, giao hoà văn hoá Việt-Chàm, Việt-Minh hương...
 
Và bàng bạc trong xã hội, văn hoá Huế có một sắc thái hoài niệm cố đô... Có một hội chứng Nostalgie ở người Huế, vì sau khi vua Tự Đức mất (1883) (và trước đó từng mảng nước rơi vào tay thực dân Pháp) rồi sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn (1885), cái triều đình còn lại ở Huế, kể từ Đồng Khánh, chỉ còn là hình thức:

Một nhà sinh đặng ba vua
Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài

Tiếp đó vua Thành Thái bị đi đày (1907) rồi lại tiếp đến vua Duy Tân đi đày (1916); đó là những va đập tâm linh lớn vào người Huế. Sinh hoạt cung đình có vẻ vẫn còn đó, Bảo Đại còn một lần làm lễ Nam Giao, song mọi sinh hoạt văn hoá  cung đình và ở các phủ, các ông hoàng bà chúa, các "mệ" là một sự suy thoái, xuống cấp nghiêm trọng. Cho đến khi vua Bảo Đại thoái vị và triều Nguyễn sụp đổ hẳn (1945), mọi sinh hoạt văn hoá Huế, nói theo kiểu Nguyễn Tuân, chỉ còn là vang bóng một thời.... "Cố đô" nào mà chẳng có nỗi niềm hoài cựu...


( Theo Gs Trần Quốc Vượng )



 
Các bài mới
Các bài đã đăng